1/ Khái niệm nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố không thể thiếu trong quá trình sản xuất. Vật liệu là đối tượng lao động, là cơ sở vật chất cấu thành lên thực thể của sản phẩm. Tài sản cố định và công cụ dụng cụ khác không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định là tư liệu lao động, còn lao động của con người là yếu tố sức lao động.

Tham khảo các bài viết sau:
+ giá thành sản phẩm
+ kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh

Nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình tạo ra sản phẩm.

Theo Wikipedia, Khái niệm nguyên vật liệu là đối tượng lao động do doanh nghiệp mua, dự trữ để phục vụ quá trình sản xuất, kinh doanh tạo ra sản phẩm.

Đặc điểm của nguyên vật liệu:

– Các nguyên vật liệu sẽ thay đổi về hình thái, không giữ nguyên được trạng thái ban đầu khi đưa vào sản xuất.

– Các nguyên vật liệu tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh (một chu kỳ sản xuất kinh doanh).

– Toàn bộ giá trị của nguyên vật liệu được chuyển trực tiếp vào sản phẩm, là căn cứ cơ sở để tính giá thành.

Ta có thể hiểu đơn giản, khái niệm nguyên vật liệu là những đối tượng lao động mà doanh nghiệp có thể mua ngoài hoặc tự chế biến để phục vụ mục đích sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp thu lợi nhuận.

2/ Ý nghĩa của Nguyên vật liệu đối với hoạt động sản xuất kinh doanh trong các DNSX
Vật liệu có đặc điểm là chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và khi tham gia vào sản xuất, dưới tác dụng của lao động chúng bị tiêu hao toàn bộ một lần hoặc bị thay đổi hình thái vật chất ban đầu để cấu thành thực thể của sản phẩm.

Về mặt giá trị, khi tham gia vào sản xuất vật liệu chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị của chúng vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.

3/ Phân loại nguyên vật liệu

Trong doanh nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu bao gồm nhiều loại khác nhau với nội dung kinh tế, tính năng lý, hoá học khác nhau. Để có thể quản lý một cách chặt chẽ và hạch toán chi tiết đối với từng loại cần thiết phải tiến hành phân loại nguyên vật liệu.

Có nhiều cách phân loại:

a/ Căn cứ vào nội dung và yêu cầu quản lý doanh nghiệp, nguyên vật liệu được chia thành các loại hình như sau:

– Nguyên vật liệu chính: Là những loại nguyên vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất thì cấu thành thực thể vật châts, thực thể chính của sản phẩm.

Trong chi phí về nguyên vật liệu nói chung thì chi phí về nguyên vật liệu chính thường chiếm tỷ trọng lớn.

– Vật liệu phụ: Là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất, không cấu thành thực thể chính của sản phẩm mà có thể kết hợp với vật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bề ngoài, tăng thêm chất lượng của sản phẩm, hàng hoá, tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm được thực hiện bình thường hoặc phục vụ cho nhu cầu công nghệ, kỹ thuật. Phục vụ cho quá trình lao động.

– Nhiên liệu: Là những thứ có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho quá trình sản xuất, kinh doanh tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm diễn ra bình thường. Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể lỏng, thể rắn, thể khí.

– Phụ tùng thay thế: Là những vật tư, sản phẩm dùng để thay thế, sửa chữa máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, công cụ, dụng cụ sản xuất…

– Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Là những loại vật liệu và thiết bị được sử dụng cho công việc xây dựng cơ bản. Đối với thiết bị xây dựng ơ bản bao gồm cả thiết bị cần lắp, không cần lắp, công cụ, khí cụ và vật kết cấu dùng để lắp đặt vào công trình xây dựng cơ bản.

– Vật liệu khác: Phế liệu, các loại vật tư đặc chủng:

Ngoài cách phân loại như trên còn có các cách phân loại khác.

Nguồn : https://luanvan1080.com/khai-niem-nguyen-vat-lieu.html